Mắt (hay còn gọi là con ngươi hoặc nhãn cầu) có hình cầu, phía ngoài có các lớp vỏ bọc, phía trong có các tổ chức nội nhãn.


Viêm nội nhãn là các phản ứng viêm trong mắt gây ra bởi quá trình nhiễm khuẩn và/hoặc chấn thương các tổ chức, mô trong nhãn cầu. Trong 2 thập kỷ vừa qua, bệnh lý này xuất hiện ngày càng nhiều hơn do sự gia tăng số lượng phẫu thuật can thiệp vào trong nội nhãn như phẫu thuật đục thể thuỷ tinh, phẫu thuật điều trị glôcôm... và cũng do sự gia tăng của các chấn thương xuyên nhãn cầu.

Viêm nội nhãn thường được chia thành 2 loại: viêm nội nhãn ngoại sinh và viêm nội nhãn nội sinh (VNNNS). Nếu viêm nội nhãn ngoại sinh xuất hiện do các tác nhân gây bệnh (nấm, vi khuẩn...) đi vào mắt trực tiếp từ môi trường bên ngoài sau chấn thương hoặc sau phẫu thuật thì VNNNS lại xuất hiện được gây ra bởi các vi khuẩn lây lan từ các cơ quan khác của cơ thể theo đường máu.

Phẫu thuật cắt dịch kính để điều trị viêm nội nhãn.

Cơ chế bệnh sinh của viêm nội nhãn nội sinh

Khi cơ thể có các nhiễm khuẩn ở bộ phận khác (như áp-xe gan, viêm da, nhiễm khuẩn đường tiết niệu, viêm mũi xoang...), các tác nhân gây bệnh sẽ từ đây đi vào máu để đến mắt, phá vỡ hàng rào bảo vệ tự nhiên xâm nhập trong mắt gây viêm nội nhãn. Khi đó, các ổ nhiễm khuẩn ban đầu được gọi là ổ nhiễm khuẩn nguyên phát. Có rất nhiều yếu tố làm suy yếu cơ chế bảo vệ tự nhiên, tạo điều kiện thuận lợi cho sự thâm nhập của các tác nhân gây bệnh, ví dụ như: Các bệnh lý toàn thân gây suy yếu cơ thể nói chung như bệnh đái tháo đường, bệnh van tim, bệnh Lupus hệ thống, bệnh AIDS, xơ gan, ung thư...; Các thủ thuật can thiệp nặng nề gây nhiễm khuẩn huyết như: lọc máu, đặt dẫn lưu bàng quang, nội soi tiêu hoá, tiêm truyền vào tĩnh mạch, điều trị hoá chất...; Các sang chấn hoặc phẫu thuật của các cơ quan khác như thay van tim, dùng thuốc ức chế miễn dịch, nghiện qua đường tĩnh mạch; Các bệnh nhiễm khuẩn nguyên phát thường gặp là: viêm màng não, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, viêm đường tiết niệu, viêm phổi, áp-xe ổ bụng... Như vậy, nhìn chung VNNNS thường xuất hiện trên 1 cơ thể suy yếu, giảm sức đề kháng.

Tuy nhiên, những năm gần đây, tại Bệnh khoa chuyên điều trị VNNNS tại Bệnh viện Mắt Trung ương, phần lớn các bệnh nhân nhập viện lại là những bệnh nhân còn trẻ tuổi, hoàn toàn khoẻ mạnh, không có tiền sử các bệnh lý toàn thân, hoặc phẫu thuật trước đó. Các khám nghiệm toàn thân như siêu âm, chụp XQ đều không có phát hiện gì đặc biệt. Khi hỏi bệnh sử những bệnh nhân này, chúng tôi thấy rất nhiều người trong số họ đầu tiên chỉ có đỏ mắt hoặc ngứa mắt, đi khám bác sĩ cạnh nhà (thường không phải là bác sĩ chuyên khoa mắt), được điều trị bằng tiêm thuốc vào người hoặc tiêm cạnh mắt, sau đó thấy mắt bệnh diễn biến dần một nặng lên. Thực tế này gợi cho chúng tôi suy rằng: nhiễm khuẩn có thể xuất hiện ở vùng lân cận mắt (như ngoài da, viên mũi xoang...) và chính các biện pháp điều trị không hợp lý, không đúng cách đã tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh VNNNS khởi phát

Các tác nhân thường gặp: VNNNS có thể do vi khuẩn hoặc nấm.

Do vi khuẩn: tụ cầu vàng (thường đầu tiên gây viêm da), liên cầu, Ecoli, vi khuẩn cúm, các loại vi khuẩn viêm màng não, trực khuẩn mủ xanh...

Do nấm: Candida Albicans (chiếm 75 - 80% VNNNS do nấm) thường xuất hiện ở bệnh nhân AIDS, Aspegillos hay gặp ở bệnh nhân nghiện theo đường tĩnh mạch. Ngoài ra còn có thể gặp Crytococcus, Torulopsis...

VNNNS chiếm khoảng 25% tổng số viêm nội nhãn ở Mỹ. Ở Việt Nam hiện nay chưa có thống kê cụ thể. Tuy nhiên, tại Bệnh viện Mắt Trung ương, hàng tuần, trung bình có khoảng 3-4 bệnh nhân nhập viện điều trị.

Các triệu chứng và dấu hiệu chính: Bệnh cảnh lâm sàng điển hình của VNNNS như sau: nhìn mờ, đau nhức mắt, kích thích khó chịu, đau đầu, sợ ánh sáng, đỏ mắt, sưng nề xung quanh mắt.

Khám nghiệm do bác sĩ chuyên khoa mắt có thể phát hiện các dấu hiệu sau: mi sưng nề, đỏ; kết mạc cương tụ, giác mạc phù, thâm nhiễm, mủ tiền phòng, viêm dịch kính, viêm gai thị, các khối mủ trắng trên hắc-võng mạc.

Ngoài ra, bệnh nhân có thể thấy mệt mỏi, sốt, mất ngủ, kém ăn. Cần lưu ý rằng VNNNS giai đoạn đầu hoặc những thể viêm âm thầm (như do PAcnes) có thể không đau, không có mủ tiền phòng. Chẩn đoán xác định sẽ gặp khó khăn ở các trường hợp như vậy. Một số bác sĩ không có kinh nghiệm có thể nhầm lẫn với bệnh viêm màng bồ đào do cơ chế tự miễn dẫn đến sai lầm trong điều trị. Bệnh viêm màng bồ đào do các nguyên nhân tự miễn thường xảy ra ở cả 2 mắt và khởi phát từ từ hơn, diễn biến âm ỉ. Hơn nữa, bệnh nhân thường có biểu hiện bệnh lý miễn dịch mạn tính ở cơ quan khác như: viêm khớp mạn tính, viêm cột sống dính khớp, viêm da cơ...

Lời khuyên của bác sĩ

Người dân phải đi khám bác sĩ chuyên khoa mắt ngay khi có các dấu hiệu nghi ngờ như nhìn mờ nhiều, nhanh, đỏ mắt, đau nhức mắt. Bệnh thường xuất hiện ở các bệnh nhân có các bệnh ở cơ quan khác gây suy yếu cơ thể hoặc nghiện qua đường tĩnh mạch. Tuy nhiên, bệnh cũng xuất hiện ở những người khoẻ mạnh có thể do các điều trị không đúng cách tại mắt.

Về phía thầy thuốc: Tuyệt đối không được lạm dụng tiêm truyền thuốc theo đường toàn thân (tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch) và đặc biệt là tiêm cạnh mắt để điều trị các bệnh thông thường của bề mặt nhãn cầu như: viêm kết mạc dịch, viêm kết mạc dị ứng. Khi điều trị, bệnh nhân có biểu hiện viêm ở trong mắt tuyệt đối không được chủ quan chẩn đoán và điều trị theo hướng viêm màng bồ đào (chống viêm đơn thuần bằng steroid) vì điều trị như vậy có thể gây thuyên giảm giả tạo các triệu chứng cơ năng và gây tổn hại cấu trúc nặng nề hơn về sau.

Các cơ sở chuyên khoa mắt không có các trang thiết bị hiện đại như sinh hiển vi đèn khe, siêu âm... không được phép điều trị các bệnh lý viêm nhiễm nội nhãn mà phải chuyển bệnh nhân lên tuyến trên càng sớm càng tốt.

ThS.BS. Đỗ Tấn (Bệnh viện Mắt TW)

Bình luận