Ve sầu với những bản hòa tấu inh ỏi trên những tán cây là một phần không thể thiếu của mùa hè.


Ở nước ta, ve sầu có ở hầu khắp các vùng miền, phát triển mạnh về mùa hè. Vào hè thu, ve sầu thường lột bỏ lớp áo bên ngoài để tiếp tục lớn lên, cái xác đó bám chặt vào các gốc cây, hoặc ngay trên mặt đất gần các gốc cây to. Xác ve khô và trong suốt, màu nâu vàng, sáng bóng, có hình như một con ve sầu. Xác ve sầu còn gọi thuyền thoái, thiền thoái (Periostracum Cicadae), được sử dụng trong y học cổ truyền để làm thuốc trị nhiều chứng bệnh.

Trước khi dùng, thuyền thoái thường được chế biến bằng cách rửa sạch đất cát bám trên mình, phơi khô se, ngắt bỏ chân, cánh, sao qua cho thơm.

Theo Đông y, thuyền thoái có vị mặn, ngọt, tính hơi hàn, quy vào kinh can, phế. Tác dụng phát tán phong nhiệt, giải biểu nhiệt, giải kinh, tuyên phế, thấu đậu chẩn, phong chẩn, phá thương phong, tiêu viêm, tiêu phù thũng. Thuyền thoái được dùng làm thuốc trong các trường hợp:

Giải độc làm sởi đậu mọc nhanh: bột thuyền thoái 2 - 4g uống với nước ấm.

Trị cảm mạo phong nhiệt, ho, nhiều đờm, mất tiếng: thuyền thoái 3g, ngưu bàng tử 10g, cam thảo 3g, cát cánh 5g.  Sắc uống ngày một thang.

Trị  trẻ em sốt cao co giật: thuyền thoái vi sao 3g, câu đằng 6g. Cả hai vị thuốc tán bột mịn. Với trẻ sơ sinh hoặc trẻ còn đang bú, đem bột thuốc quấy đều rồi hấp cách thủy cho chín, gạn lấy nước thuốc, chia uống nhiều lần trong ngày, có thể thêm chút đường phèn hoặc mật ong cho dễ uống. Với trẻ lớn thì đem bột thuốc hãm với nước sôi hoặc sắc nhỏ lửa, gạn lấy nước thuốc, uống ngày 2-3 lần. Có thể thêm đường hoặc mật ong cho dễ uống.

Trị trẻ sơ sinh khóc dạ đề hoặc hay giật mình, ngủ không yên giấc: bột thuyền thoái đã sao vàng 1-2g, thêm sữa mẹ hấp cách thủy cho uống trong ngày.

Chữa ho, thở gấp, khàn tiếng, mất tiếng: thuyền thoái và nghệ vàng đồng lượng, tán bột mịn. Trẻ em ngày uống 3 - 4 lần, mỗi lần 4 - 6g;  người lớn 8- 12g một lần. Có thể thêm mật ong hoặc đường phèn cho dễ uống.

Chữa chứng đau đầu, chóng mặt, ù tai: thuyền thoái bỏ chân, bỏ cánh, sao vàng, tán bột, uống ngày 4-6g với nước ấm hoặc rượu trắng.

Trấn kinh an thần, trị sốt cao, co giật, uốn ván: thuyền thoái 6g, toàn yết 3g, thiên nam tinh 8g, cam thảo 4g. Tất cả tán bột, uống ngày một thang.

Chữa mắt có màng, mộng, sung huyết, gây đau nhức: thuyền thoái vi sao, cúc hoa vàng đồng lượng. Hai vị tán bột mịn, ngày uống 1-2 lần, mỗi lần 8-12g với nước ấm có pha thêm chút mật ong.

Trị viêm thận mạn tính, nước tiểu có albumin, phù nề: thuyền thoái phối hợp với một số vị thuốc khác như ích mẫu, trạch tả, mộc thông, xa tiền...

Lưu ý: Người cơ thể bị hư hàn hoặc phụ nữ có thai không nên dùng.

GS.TS. Phạm Xuân Sinh

Từ khóa: Ve sầu

Bình luận