Cơn nắng ngày Hè, tháng Hạ đã vàng rực lên trên những sườn núi và nóng rát trên da người. Cái thú xê dịch lại giục gọi trong tâm trí và bước chân, không gì ngăn nổi…

Và nhờ duyên cớ đó mà chúng mình đến được nơi là cội nguồn của câu ca “Không thơm cũng thể hương đàn/ Không trong cũng nước nguồn Hàn chảy ra”. Khi ấy, những vẫy gọi của chuyến đi có sức hấp dẫn một cách kỳ lạ.

Câu chuyện trong buổi chiều im ắng trong ngôi nhà sàn bên bờ trái của quãng sông Đakrông nhấp nhô đá cuội của già Chuốp và người cùng thời về sông Đakrông, sông Thạch Hãn hệt như đang mở từng trang tư liệu quý giá trong sách Đại Nam nhất thống chí: “Sông Thạch Hãn, từ nguồn Viên Kiều ở bảo Trấn Lao (Lao Bảo) chảy về Đông..., qua phía Bắc tỉnh thành Quảng Trị thì mang tên sông Thạch Hãn, đến ngã ba cổ Thành chia làm hai nhánh: Một nhánh chảy lên Đông Bắc đến ngã ba Phú Ông, gặp sông Ái Tử (Vĩnh Phước) ở phía Tây chảy vào, qua huyện Đăng Xương (tức huyện Triệu Phong ngày nay), rồi ngã ba Đại Độ gặp sông Điếu Ngao (sông Điếu Ngao qua cửa Điếu Ngao, đến xã Cam Lộ thì gọi là sông Cam Lộ), rồi qua ngã ba Giáo Liêm đổ ra Cửa Việt. Một nhánh chảy xuống Đông Nam, chảy vào sông Vĩnh Định, gặp sông Nhùng (Mai Đàn) từ phía Tây tới, rồi theo hướng Nam tới huyện lỵ Phong Điền thì gặp sông Ô Lâu (Thác Ma), sau đó chảy ra phá Tam Giang”.

Những dòng chữ mẫn tiệp của sách và vốn sống của người đã sống hơn nửa thế kỷ bên sông Đakrông cùng chuyên chở sự ghi nhớ rằng, sông Thạch Hãn dài khoảng một trăm bảy mươi dặm gồm cả đầu nguồn ở phía Tây Nam của tỉnh Quảng Trị với lượng phù sa không nhiều, nước thường trong xanh nhìn thấy đáy, trừ những ngày mưa lũ. Xuôi về Đông, sông Thạch Hãn có ba mươi bảy phụ lưu với diện tích lưu vực là 2.660 kilomet vuông và lưu lượng dòng chảy trung bình hàng năm khoảng 130m3 mỗi giây. Với thượng lưu là sông Đakrông bắt nguồn từ phía Đông của dãy Trường Sơn hùng vĩ, chảy quanh co giữa núi rừng, qua nhiều thác ghềnh, hợp với sông Rào Quán, theo Quốc lộ 9 xuôi về Ba Lòng rồi đổ ra Cửa Việt với vô số đá ngầm, đá dựng và nhiều loài thảo mộc nên dòng nước Thạch Hãn trong vắt, thơm mát. Tên gọi Thạch Hãn được lý giải do ở giữa nguồn có một mạch đá ngầm chắn ngang sông, mạch đá đổ mồ hôi thành dòng chảy. Và chính những đặc điểm tự nhiên đó đã đưa sông Thạch Hãn trở thành biểu tượng của đạo lý trong sạch và danh thơm của đất và người Quảng Trị thể hiện qua câu ca có hương đàn và nước nguồn Hàn.

 

Thả đèn, hoa tưởng nhớ tri ân các liệt sĩ đã hy sinh trên dòng sông Thạch Hãn.

Thả đèn, hoa tưởng nhớ tri ân các liệt sĩ đã hy sinh trên dòng sông Thạch Hãn.

 

Là dòng sông có hình thể uốn lượn uyển chuyển theo phía Đông và Đông Bắc, gặp sông Rào Quán lại chảy về hướng Đông rồi ngược lên phía Bắc, nhập với sông Cam Lộ là sông Hiếu đoạn chảy qua TP. Đông Hà tại ngã ba Dã Độ rồi lại quay về hướng Đông, đổ ra Cửa Việt cùng với nhiều phụ lưu là sông Vĩnh Định, sông Vĩnh Phước, sông Điếu Ngao thuộc các huyện Triệu Phong, Hải Lăng và TP. Đông Hà, sông Thạch Hãn là tuyến giao thông đường thủy rất quan trọng của tỉnh Quảng Trị. Đổ ra biển Đông qua Cửa Việt, đoạn sông Thạch Hãn chảy qua thị xã Quảng Trị rộng từ 150-200 mét. Chiều tháng Năm trở nên rực rỡ hơn khi Trác Diễm chỉ ra phía quãng sông ngập tràn sắc nắng trong lúc nói giới truyền thông trong nhiều năm qua đã nhắc tới việc nhiều tướng lĩnh, nhà cầm quân đã ví sông Thạch Hãn là con hào thiên tạo ở phía Bắc Thành cổ Quảng Trị và sự song hành mà lịch sử đã chọn của dòng Thạch Hãn với ngôi Thành cổ là sự song hành bi tráng thuộc vào bậc nhất của máu và hoa. Thiên sử thi bi tráng đó đến từ vị trí chiến lược về quân sự trong chiến dịch giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của Thạch Hãn và Thành cổ Quảng Trị mà điển hình là 81 ngày đêm giữ vững Thành cổ trước cuộc phản kích tái chiếm tỉnh Quảng Trị của đế quốc Mỹ xâm lược và Quân lực Việt Nam Cộng hòa vào mùa Hè đỏ lửa năm 1972.

Trong cuộc chiến đấu 81 ngày đêm oanh liệt từ ngày 28/6 đến ngày 15/9 năm 1972, dòng Thạch Hãn đã đón nhận hàng vạn chiến sĩ Quân Giải phóng vượt sông dưới mưa bom bão đạn vào giữ Thành cổ Quảng Trị, làm nên trang sử vàng bất khuất vì hòa bình và thống nhất của đất nước, vì tự do của dân tộc Việt Nam đồng thời viết nên khúc tráng ca về dòng Thạch Hãn và ngôi Thành cổ vinh quang. Soi bóng dòng Thạch Hãn, thị xã Quảng Trị chưa đầy 3 kilomet vuông đã hứng chịu một lượng bom đạn do Mỹ-Ngụy trút xuống trong 81 ngày đêm có sức công phá bằng 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống thành phố Hirosima của Nhật Bản đã trở thành một thành phố tuẫn đạo của thế giới. Ở đó, hàng vạn chiến sĩ Giải phóng quân đã giữ vững Thành cổ Quảng Trị bằng chính lòng quả cảm, ý chí và nghị lực phi thường của “những con người Việt Nam với truyền thống bốn ngàn năm đã giác ngộ sâu sắc trách nhiệm trọng đại trước Tổ quốc, trước thời đại” (Tổng Bí thư Lê Duẩn). Chiến công và vinh quang đó trên dòng Thạch Hãn và ngôi Thành cổ bên sông Thạch Hãn gắn với những con người đã quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh mà hôm nay thường ngân vang trong những câu ca về Dòng sông hoa đỏ - “Khi người lính lặng im tan vào đất, là cuộc đời chảy mãi những dòng sông, ôi dòng sông mang phù sa người lính, tươi mát bãi bồi xanh ngát nương dâu” (Nguyễn Hữu Quý-Võ Thế Hùng) và trong câu thơ tưởng nhớ đồng đội - “Đò lên Thạch Hãn… ơi chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/ Có tuổi hai mươi thành sóng nước/ Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm” (Lê Bá Dương).

Từ Hà Nội vào, Đặng Thanh Thanh nhất quyết đòi thăm Thành cổ Quảng Trị. Sáng mùa Hạ rưng rưng trên những bông cỏ lau đã bắt đầu bung nở ở hai bờ của dòng Thạch Hãn, tại những nơi mà trong 81 ngày đêm tuẫn đạo của quân và dân Việt Nam cùng ngôi Thành cổ vinh quang và dòng sông bi tráng là những bến vượt thấm đỏ máu đào. Với Thanh Thanh, chúng mình nhanh chóng hóa thân làm hướng dẫn viên du lịch mà bằng sự chân chất, mộc mạc đã phác vài nét khái quát, giới thiệu giản dị rằng bên sông Thạch Hãn trong hơn hai trăm năm nay là vùng đất của những thế hệ người Việt trầm tĩnh, hiền hòa. Vẫn là Trác Diễm với tình yêu thắm thiết và lòng tự hào về mảnh đất chứa đựng hạnh phúc ruột rà của mình mà thù tiếp bạn đến từ phương xa trong tâm thế của một người am tường về sông Thạch Hãn và Thành cổ Quảng Trị. Nhiệt tâm và am hiểu của Trác Diễm vì thế mà đã giúp Thanh Thanh biết, dòng Thạch Hãn đã chảy trong Đại Việt sử ký toàn thư với thị xã Quảng Trị ở bờ Nam thuộc châu Thuận và xứ Thuận Hóa sau cuộc hôn nhân có ý nghĩa mở mang bờ cõi quốc gia Đại Việt của Huyền Trân công chúa và quốc vương Chămpa Chế Mân. Trên vùng đất của nước nguồn Hàn chảy ra, đời sống ở các địa phương nổi tiếng với “chợ không nói thách, dân không trộm cắp, cổng ngoài không phải đóng, thuyền buôn nước ngoài đều đến buôn bán, trao đổi phải giá, quân lệnh nghiêm cẩn, mọi người ra sức” (Đại Việt sử ký toàn thư). Hoặc khi ghi chép về vùng đất bên dòng Thạch Hãn là nơi đất lành chim đậu, tác giả của sách Ô châu cận lục đã viết: “Ngoài vườn Thạch Hãn chim về lũ lượt”. Ở đó, thị xã Quảng Trị đã nhanh chóng trở nên sầm uất, trở thành trung tâm buôn bán tấp nập và hấp dẫn với nhiều sản vật quý, giao thương thuận lợi nhờ tiếp giáp Quốc lộ nối liền hai miền Nam-Bắc của đất nước, ở ven châu thổ sông Thạch Hãn chuyên chở phù sa từ thượng nguồn về trong dòng nước mà không thơm cũng thể hương đàn kết hợp con sông đào Vĩnh Định xuôi về Cửa Việt, ra Biển Đông, xuống Hội Yên của huyện Hải Lăng, ra TP. Đông Hà và vào tới cửa Thuận An của tỉnh Thừa Thiên Huế. Ngày nay, quá trình đô thị hóa đã và đang hướng thị xã Quảng Trị tới sự gắn kết và hội nhập với chuỗi các đô thị ở miền Trung của Việt Nam như Vinh, Huế, Quy Nhơn, Phan Thiết... khi những vết thương chiến tranh dần dà được hàn gắn và con người không ngừng cố gắng mở ra các giai đoạn phát triển mới bên dòng Thạch Hãn.

Khi cuộc sống hồi sinh trên hoang tàn đổ nát vì từng là một tọa độ lửa trong chiến tranh và được “thiết kế trở lại trên ấm no, công bằng và nhân phẩm” sau mấy mươi năm giành lại từ cỏ dại “không gian nhân văn cho cuộc sống con người” (Hoàng Phủ Ngọc Tường), thị xã Quảng Trị hôm nay đã nhận vào mình từng hương đất, vị nước được lấy từ Hoàng thành Thăng Long-Hà Nội, ở quê nhà Nam Đàn-Nghệ An của Bác Hồ kính yêu, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường Ba Đình lịch sử, ở khu nhà sàn và ao cá Bác Hồ, ở bến Nhà Rồng và 18 thôn Vườn Trầu Bà Điểm-TP. Hồ Chí Minh, ở sông Hồng, sông Lam, sông Sài Gòn cùng đất nơi vườn nhà, nước trong giếng nhà của các anh hùng liệt sĩ... Khi hòa vào khí thiêng đất đai Thành cổ Quảng Trị và sông nước Thạch Hãn, lư hương bát nhang ở thị xã Quảng Trị, những hương đất và vị nước ấy cùng tình đồng chí, nghĩa đồng bào sưởi ấm linh hồn những người thân, những đồng đội đã hy sinh trong 81 ngày đêm viết thêm trang sử hào hùng của dân tộc đã, đang và sẽ mãi làm nên linh hồn của các công trình kiến trúc giàu ý nghĩa là Trung tâm tôn vinh-tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ và Bảo tàng Thành cổ, Đài Tưởng niệm chiến sĩ Thành cổ, Đài Chứng tích sinh viên-chiến sĩ Thành cổ, Tháp chuông Thành cổ, Quảng trường Giải phóng, nhà hành lễ và bến thả hoa ở đôi bờ Nam-Bắc của dòng Thạch Hãn...

Thạch Hãn là tên của một dòng sông chảy giữa đất trời Quảng Trị có ý nghĩa giúp các thế hệ tiếp nối tóm tắt một thời kỳ lịch sử lẫm liệt của dân tộc mình. Với sông Thạch Hãn, người Quảng Trị chứng minh khí thiêng sông núi của quê nhà đã đi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một huyền thoại về lòng yêu nước nồng nàn, khí phách quật cường, tinh thần bất khuất trong cuộc chiến vì độc lập, tự do của Tổ quốc và vì phẩm giá con người đồng thời chứng minh cuộc sống của mình ngày càng tươi thắm ở vị trí luôn đón những ngọn gió mang hương thơm của nước nguồn Hàn chảy ra... Ngoái lên dãy Trường Sơn xa xanh, chúng mình lặng nghe nhịp sóng nước Đakrông, Rào Quán, Ba Lòng, Cam Lộ, Hiếu giang uốn lượn qua các lưu vực đồng bằng để có dòng Thạch Hãn không ngừng nuôi dưỡng các vựa lúa Triệu Phong, Hải Lăng, thị xã Quảng Trị và làm tuyến giao thông đường thủy rất thuận lợi, bồi đắp cuộc sống tự muôn đời và chảy vào lịch sử những phù sa thắm đỏ niềm tự hào của máu và hoa:

Hễ có Việt Nam có cổ Thành

Nối vòng hoa lửa với Khe Sanh

Huân chương khó đủ từng viên gạch

Tấc đất từng giây mỗi lá cành

(Trần Bạch Đằng).

 

(*) Bài ca người thợ rừng - Phạm Tuyên

Bài, ảnh: NGUYỄN BỘI NHIÊN

Bình luận