Những kiểu trị bệnh lạ nhất thế giới trong vòng 100 năm qua

Rất đa dạng như dùng vây cá mập chữa ung thư, phẫu thuật plombage, dùng thuốc giảm cân MDP cho đến hút thuốc lá chữa bệnh, hay sirô giảm đau cho trẻ nhỏ, vân vân.

Đây là những cách chữa bệnh độc đáo, thậm chí còn không bình thường, nhưng vẫn tồn tại trong suốt 1 thế kỷ.

1. Dùng vây cá mập chữa ung thư.

Liệu pháp dùng vây, sụn cá mập chữa ung thư, được bắt nguồn từ giả thiết, rằng cá mập không bị ung thư, nên dùng sụn của chúng sẽ có tác dụng tiêu diệt tế bào ung thư. Nghiên cứu về sụn cá mập, đã được khoa học thực hiện trong những năm 70 và 80 ở thế kỷ trước. Những gì được thông báo làm cho nhiều người ngộ nhận. Các nghiên cứu này đều phát hiện thấy, cá mập hiếm khi bị ung thư, vì sụn của nó có chứa một chất ức chế tăng trưởng khối u. Chính đồn thổi này, mà thị trường tràn ngập các chất bổ sung đi từ vây, sụn cá mập.

Theo thống kê tại Mỹ, có hơn 40 sản phẩm mang nhãn hiệu vây cá mập, với các định dạng liều lượng khác nhau. Gồm thuốc viên, thuốc dạng lỏng, kem đặc hiệu, thậm chí cả enemas, dùng sơ-ranh bơm trực tiếp vào ruột. Tuy nhiên, hơn một chục thử nghiệm lâm sàng về sụn cá mập, đã được tiến hành ở bệnh nhân ung thư, phát hiện thấy nó chẳng có lợi ích gì cho sức khỏe. Chính vì vậy, Viện Ung thư Quốc gia Mỹ NCI tuyên bố, sụn cá mập không có hiệu ứng kháng ung thư, còn các chất bổ đi từ sụn cá mập, hiện vẫn chưa được Cơ Quan quản lý Thực & Dược phẩm Mỹ FDA phê duyệt.

2. Phẫu thuật Plombage.

Những năm 30 đến 50 ở thế kỷ trước, lao là căn bệnh hàng đầu gây tử vong ở con người. Thuốc kháng sinh dưới bất kỳ dạng nào cũng đều rất hiếm, nên bệnh lao lại càng hoành hành mạnh. Trong thời gian này, con người đã nghĩ ra một thủ thuật y khoa lạ, có tên phẫu thuật plombage Plombage surgery. Thủ thuật này gồm lấp đầy khoang phế quản bệnh nhân, khu vực phổi sau khoang xương sườn, bằng các vật liệu ngẫu nhiên như dầu khoáng, quả cầu thủy tinh hữu cơ Lucite, gạc, sáp parafin, cao su, mỡ động vật, vân vân.

Thậm chí còn có cả một nghiên cứu, được công bố về các ca phẫu thuật plombage, được thực hiện ở trẻ em, trong đó bóng bàn khử trùng đã được sử dụng làm vật liệu độn. Kiểu phẫu thuật này có thể làm cho phổi xẹp, và không còn hoạt động nữa. Về lý thuyết, nếu phổi của bệnh nhân được làm cho sẹp, nó sẽ tự chữa bệnh theo thời gian. Phẫu thuật Plombage surgery thường cho phép bệnh nhân sống lâu hơn, và có thể cải thiện được tình trạng sức khỏe trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, nhiều thập niên sau, các biến chứng đã xảy ra nhiều hơn, thường là nhiễm trùng, xuất huyết, hoặc chuyển động của vật liệu độn ngoại lai. Rất may, sau khi kháng sinh hiện đại ra đời, thì từ những năm 1950, phẫu thuật plombage đã bị loại khỏi hoàn toàn.

3. Viên thuốc giảm cân MDP.

Vào những năm 50 ở thế kỷ trước, nếu hút thuốc lá không đủ để giúp giảm cân, thì người ta lại uống tiếp viên thuốc giảm cân có chứa meth dạng tinh thể, hay viên MDP Methamphetamine Diet Pills, có thể hiểu ngắn gọn hơn là thuốc giảm cân đi từ Methamphetamine. MDP đã được sử dụng khắp nước Mỹ, dưới dạng thuốc thương phẩm Obetrol, Dexamyl và  Eskatrol. Riêng Obetrol được bán trên thị trường, đặc biệt cho bệnh béo phì ngoại sinh, có chứa một hỗn hợp một số muối amphetamine, hơn một nửa là methamphetamine hydrochloride, còn gọi là tinh thể meth. Theo các cuộc điều tra các hãng nhà sản xuất do FDA thực hiện cho thấy, những năm 50 ở thế kỷ trước, Amphetamine được sản xuất và sử dụng khá phổ biến. Đến năm 1962 đã đạt đến mức khoảng 43 liều, 10mg mỗi liều, trên một người dân Mỹ. Khoảng 33% các đơn thuốc được kê đơn là giảm cân, phụ nữ chiếm 85% thị phần dùng MDP. Việc sử dụng phổ biến MDP ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, gây nghiện và trở thành nhóm thuốc bị lạm dụng nhiều nhất tại Mỹ.

Sang thập niên 70, chính phủ Mỹ bắt đầu hạn chế chất Amfetamine, và liệt chúng vào nhóm chất được kiểm soát. Obetrol, được lạm dụng như một loại thuốc giải trí vào những năm 60, sau đó tiếp tục được loại bỏ thành phần meth, mặc dù các muối amphetamine khác vẫn còn hiện diện, và hiện nay Obetrol không còn được sản xuất tại Mỹ nữa.

4. Hút thuốc lá vì sức khỏe.

Vào đầu thế kỷ 20, con người ngộ nhận cho rằng hút thuốc lá tốt cho cơ thể, đặc biệt hít khói thuốc lá còn được xem là giảm hen suyễn. Chính điều này, từ những năm 20 đến 50 ở thế kỷ trước đã được các bác sĩ ủng hộ, và chính họ là nhóm tiên phong đi đầu hút. Hãng thuốc lá Lucky Strike ở Mỹ còn quảng cáo rằng, quy trình sản xuất của họ đã được thực hiện rất bài bản, cho ra đời điếu thuốc có thể bảo vệ cổ họng chống lại kích ứng và ho.

Hút thuốc lá còn được xem là xu hướng ăn kiêng, của phụ nữ Mỹ trong những năm thập kỷ 20. Năm 1953, ba nhà khoa học tên là Wynder, Graham và Croninger, đã công bố phát hiện của họ trong phòng thí nghiệm, khẳng định thuốc lá gây ra ung thư, và từ đây ngành công nghiệp thuốc lá bắt đầu gặp rắc rối. Còn các bác sĩ đã bắt đầu dừng hút thuốc, mọi người nhận ra rằng thuốc lá thực sự nguy hiểm. Hiện nay, nhiều chiến dịch quảng cáo liên quan đến thuốc lá, đã đi ngược với cách đây 1 thế kỷ, tức khuyên mọi người bỏ thuốc lá càng sớm càng tốt, bởi hút thuốc lá chính là tự giết mình và đầu độc những người xung quanh.

5. Xi-rô chữa đau, giảm khóc ở trẻ.

Một loại thuốc khá phổ biến vào cuối những năm 1800, đến đầu những năm 1900, có tên xi-rô Winslow. Đây là một loại thuốc được dùng cho trẻ sơ sinh, để ngăn ngừa đau nhức, tiêu chảy và các bệnh nhẹ khác, đồng thời giảm quấy khóc. Thậm chí còn được quảng cáo có chứa hình ảnh của mẹ và bé. Chính những quảng cáo này, làm cho nhiều bà mẹ rỉ tai nhau nên mua về dùng, đặc biệt sau khi uống xong, còn giúp trẻ nín thinh và ngủ ngay. Ngay sau đó y học đã vào cuộc và phát hiện thấy, trong xi-rô Winslow này có chứa morphine pha với cồn, và được bán đến tận cuối những năm 30. Morphine là một loại thuốc giảm đau và được xếp là dạng thuốc phiện mạnh, có tác dụng phụ nghiêm trọng và  gây nghiện cao, gây nguy hiểm cho trẻ sơ sinh nếu dùng trong liều lượng tập trung. Hậu quả, xi-rô Winslow đã làm cho nhiều ca tử vong ở trẻ sơ sinh do dùng quá liều, nhất là khi kết với với nhiều loại thuốc gây nghiện khác, cuối cùng nó đã bị loại bỏ khỏi thị trường ở Mỹ và một số nước phương Tây.

6. Nước phóng xạ.

Hiện nay, khoa học khuyến cáo con người nên tránh xa bức xạ, nhưng cách đây 100 năm, khi mới được phát hiện, nó lại được dùng để chữa bệnh. Người ta đã bỏ tiền ra để mua “sự chết chóc” dưới dạng sản phẩm, như dây chuyền radium, chăn uranium, và nước radon, với hy vọng cải thiện tiêu hóa, viêm khớp, và bất cứ thứ gì vô phương cứu chữa. Một sản phẩm phổ biến có tên Radius Ore Revigator, tức máy làm mát nước, được lót bằng một chất phóng xạ, khi phân rã sẽ giúp bổ sung nồng độ radon cho cơ thể, bán chạy như tôm tươi.

Eben Byers, một nhà công nghiệp thép giàu có ở Pittsburgh, Mỹ, kiêm tay golf có hạng những năm 1900, là người tiên phong dùng nước rađi có tên Radithor, theo gợi ý của bác sĩ riêng. Đến năm 1930, Byers đã mắc nhiều bệnh ung thư, và xuất hiện chiếc lỗ trên hộp sọ, hai hàm bị sưng tấy rồi rụng. Sau cái chết củaEben Byers, người ta bắt đầu nhận ra sự nguy hiểm của việc tiếp xúc với phóng xạ. Ngay sau đó, Bộ Môi trường Mỹ EPA đã đưa ra các biện pháp, nhằm ngăn ngừa phơi nhiễm với bức xạ trong cộng đồng dân cư, và đến nay nhận thức của con người về bức xạ đã rõ ràng hơn.

Dược sĩ: TRANG NHUNG, Theo Listverse.