Theo Đông y, ngũ vị tử vị chua, tính ôn; vào kinh phế và thận. Tác dụng an thần, liễm phế, bổ thận, chí hãn sáp tinh, chỉ tả, sinh tân chỉ khát.

Ngũ vị tử còn có tên huyền cập, ngũ mai tử, là quả chín phơi hay sấy khô của cây ngũ vị (Schisandra sinensis Baill.), họ ngũ vị tử (Schisandraceae). Ở nước ta (Cao Bằng, Lào Cai, Lai Châu) còn có nam ngũ vị tử là quả của cây nắm cơm (Kadsura japonica L.), cùng họ ngũ vị tử. Tuy nhiên, nam ngũ vị tử chưa được khai thác nhiều.

Ngũ vị tử - Thuốc liễm phế, an thần
Ngũ vị tử (quả chín khô của cây ngũ vị) là vị thuốc trị tim loạn nhịp, viêm khí phế quản, viêm gan mạn…

Ngũ vị tử có các dẫn chất dibenzo [a,c] cycloocten thuộc nhóm lignan (các Schisandrin A, B, C…), tinh dầu có mùi chanh, acid citric, acid malic, acid tartric… Theo Đông y, ngũ vị tử vị chua, tính ôn; vào kinh phế và thận. Tác dụng an thần, liễm phế, bổ thận, chí hãn sáp tinh, chỉ tả, sinh tân chỉ khát. Trị viêm khí phế quản mạn tính gây hen suyễn, sau sốt nhiễm khuẩn, mất nước, khát nước, hồi hộp đánh trống ngực tim đập mạnh loạn nhịp, mất ngủ, ngủ hay mê, quên lẫn giảm trí nhớ. Liều dùng: 4 - 8g. Sau đây là một số cách dùng ngũ vị làm thuốc:

Ích thận, cố tinh. Chữa thận dương hư, hoạt tinh: dùng bài Tang phiêu tiêu hoàn: tang phiêu tiêu 12g, ngũ vị tử 8g, long cốt 12g, phụ tử 12g. Tất cả làm thành viên hoàn hoặc sắc uống.

Cố biểu liễm hãn. Chữa chứng cơ thể hư nhược, ra nhiều mồ hôi (tự ra nhiều mồ hôi hoặc mồ hôi trộm): dùng bài Bá tử nhân hoàn: bá tử nhân 125g, bán hạ khúc 125g, mẫu lệ 63g, nhân sâm 63g, ma hoàng căn 63g, bạch truật 63g, ngũ vị tử 63g, đại táo 30 quả. Đại táo nấu nhừ, nghiền nát, bỏ hạt. Các vị khác sấy khô, nghiền chung thành bột mịn, nhào với đại táo đã nghiền nát để làm hoàn to bằng hạt ngô. Có thể dùng dạng bột. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 20 - 30 viên.

Liễm phế chỉ khái. Chữa chứng phế hư, ho hen suyễn: dùng bài Ngũ vị tử thang: đảng sâm 12g, mạch môn đông 12g, ngũ vị tử 6g, tang phiêu tiêu 12g. Sắc uống.

Sinh tân chỉ khát. Chữa chứng tân dịch không đủ, miệng khô, khát nước: Dùng bài Sinh mạch tán: nhân sâm 10g, mạch đông 12g, ngũ vị tử 6g. Sắc uống hoặc sấy khô, tán bột.

Món ăn thuốc có ngũ vị:

Ngũ vị tử hồ đào tán: ngũ vị tử 100g, hồ đào nhân 250g. Ngũ vị tử ngâm nước sau nửa ngày cho mềm, tách bỏ hạt, đem sao cùng với hồ đào, để nguội tán thành bột mịn. Mỗi lần uống 9g với nước sôi hoặc nước cơm. Dùng cho nam giới di mộng tinh.

Ngũ vị tử tán: ngũ vị tử sao khô tán mịn, mỗi lần uống 3g, ngày 3 lần. Đợt dùng 30 ngày, uống với nước đun sôi ấm hoặc nước cơm, thêm chút muối đường. Dùng tốt cho bệnh nhân viêm gan mạn tính, men gan cao.

Rượu nhân sâm ngũ vị câu kỷ: rượu 500ml, nhân sâm 10 - 20g, ngữ vị tử 30g, câu kỷ tử 30g. Ngâm 7 ngày. Uống trước khi đi ngủ 15 - 20ml. Thích hợp cho người suy nhược thần kinh, hồi hộp, đánh trống ngực, mất ngủ.

Rượu ngũ vị tử: ngũ vị tử 40g ngâm với 100ml rượu trong 10 ngày, chắt nước rượu ra, đổ 100ml rượu nữa ngâm tiếp lần hai, trong 10 ngày. Trộn 2 thứ rượu thuốc với nhau, có thể thêm ít nước cất cho loãng. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 2,5ml. Dùng cho người suy nhược thần kinh.

TS. Nguyễn Đức Quang

Bình luận