Mùa hè thường được các chuyên gia y tế gọi là mùa của sỏi thận. Số người mắc căn bệnh này trong mùa hè, thường cao gấp đôi so với mùa đông.

Nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng này, là sự mất nước và lượng vitamin D trong cơ thể tăng lên. Nếu cơ thể bị thiếu nước, thì nước tiểu sẽ càng đặc, và rất dễ kết tinh thành các tinh thể dẫn đến sỏi thận. Vì vậy, cần biết cách phòng tránh, để không bị sỏi thận mùa hè.

Sỏi thận là sự lắng cặn muối và khoáng, hình thành bên trong thận. Bệnh sỏi thận do nhiều nguyên nhân gây ra, và có thể thấy trong đường tiểu, từ thận đến niệu quản, (ống nối từ thận đến bàng quang), và ở bàng quang. Sỏi thận phổ biến ở những nước nhiệt đới nóng ẩm như Việt Nam, chúng thường hình thành khi nước tiểu lắng cặn, khiến các khoáng chất kết dính lại với nhau. Hầu hết các loại sỏi thận đều thoát ra ngoài một cách tự nhiên, và có thể khiến người bệnh rất đau. Nếu được phát hiện sớm, sỏi thận sẽ không gây ra các tổn hại lâu dài, quan trọng là người bệnh được điều trị kịp thời, để tránh các biến chứng sau này.

 

Hình ảnh mô tả sỏi thận và vị trí đau khi bị sỏi thận.

Hình ảnh mô tả sỏi thận và vị trí đau khi bị sỏi thận.


1. Dấu hiệu nhận biết.

Sỏi thận thường không có triệu chứng, nếu không bị mắc ở đâu đó trong đường tiết niệu, hoặc có thể trôi thuận lợi qua hệ bài niệu. Triệu chứng của sỏi thận bao gồm: Đau dữ dội vùng hông và lưng, vị trí phía dưới xương sườn, tình trạng đau lan đến vùng bụng dưới. Bệnh nhân thường xuyên buồn tiểu, hoặc đau buốt khi đi tiểu. Nước tiểu có màu hồng, đỏ hoặc nâu, nước tiểu đục hoặc có mùi hôi. Buồn nôn và nôn mửa, sốt và ớn lạnh, đặc biệt vị trí đau có thể thay đổi và đau có thể tăng lên.

2. Một số loại sỏi thận thường gặp.

Sỏi thận hình thành, khi nước tiểu có chứa nhiều các chất, hình thành tinh thể, mà chất lỏng có trong nước tiểu không thể pha loãng, hoặc khiến chúng không kết dính với nhau. Các yếu tố nguy cơ gây sỏi thì có nhiều, trong đó điều kiện khí hậu nhiệt đới, không uống đủ nước, ra mồ hôi nhiều dễ gây sỏi. Chính vì vậy, mùa hè nóng bức là nguyên nhân gây tình trạng sỏi, khiến bệnh nhân nhập viện nhiều hơn. Ngoài ra, chế độ ăn quá nhiều protein, muối hoặc đường, béo phì, vân vân, cũng gây ra tình trạng sỏi thận.

Sỏi canxi: Đây là loại sỏi thận phổ biến nhất, thường là canxi oxalate, xảy ra tự nhiên trong nhiều loại thực phẩm, như một số loại rau quả, hạt, sôcôla, vitamin D liều cao, có thể làm tăng nguy cơ mắc loại sỏi này. Theo thống kê, sỏi canxi chiếm khoảng 80% các trường hợp mắc sỏi. Bình thường, sỏi canxi cứng, có nhiều hình dạng, kích thước, mật độ khác nhau. Lượng canxi dư thừa trong cơ thể, được đào thải qua thận, do nồng độ quá nhiều, khó có thể hòa tan trong nước tiểu, nó sẽ kết hợp với các khoáng chất khác tạo thành sỏi.

Sỏi struvite: Là loại sỏi nhiễm khuẩn đường tiết niệu. Ðược hình thành trong tình trạng nhiễm khuẩn, tồn tại kéo dài, do các loại vi khuẩn, có khả năng phân giải urê thành amonium. Ðiều này cho phép kết hợp giữa amonium và magiê, phosphate trong nước tiểu, để hình thành sỏi. Khi đó, vi khuẩn hình thành sỏi, sẽ bám dính luôn vào sỏi. Một điều chắc chắn rằng, khi amonium càng bám nhiều, thì sỏi sẽ lớn dần. Nó tiếp tục lớn lên và quấn quanh nhân sỏi, cho đến khi toàn bộ khoảng trống trong bể thận, đều được lấp đầy bởi sỏi. Với thời gian nhiễm khuẩn như thế, có thể gây tổn thương thận, cũng như sinh ung thư. Sỏi struvite ít khi gây nên cơn đau quặn thận, do kích thước của nó. Ngay cả khi nó đi kèm với nhiễm khuẩn, có thể tạo ra triệu chứng, nó cũng có thể không có triệu chứng điển hình, của viêm bàng quang như tiểu nóng, tiểu nhiều lần. Phổ biến hơn thường là cảm giác mệt mỏi, sút cân, chán ăn và đi tiểu sậm màu. Ðôi khi có thể gây ra nhiễm khuẩn thận, với triệu chứng đau lưng, sốt cao và bắt đầu tiểu đục. Vì triệu chứng của nó không đặc hiệu, nên thường bệnh nhân chỉ được phát hiện tình cờ, qua siêu âm hoặc Xquang, vì một vấn đề khác.

Sỏi axit uric: Thường xảy ra ở người không uống đủ nước, nhiều mồ hôi và người có chế độ ăn nhiều protein. Vì thế, khi phát hiện lượng acid uric trong máu tăng cao, người bị bệnh cần dừng hoặc hạn chế tối đa, việc ăn thịt gia cầm và động vật, tránh bia rượu và gia tăng ăn hoa quả, rau xanh là điều đầu tiên cần làm. Nhiều người khi phát giác lượng acid uric máu tăng cường cao, thì hốt hoảng đi mua thuốc về uống, nhưng trên thực tế, người bệnh hãy thực hành thực đơn ăn uống ngay tức thì. Nếu khi đó mà lượng acid uric vẫn tiếp theo gia tăng, thì mới cần đến sự viện trợ của thuốc. Vấn đề đáng lo lắng là sỏi acid uric, tuy không cứng, tuy nhiên lại khó phát hiện hơn sỏi canxi.

3. Khi nào cần đi khám bác sĩ?

Khi có biểu hiện nghi ngờ nghĩ đến sỏi thận, các biểu hiện gợi ý là khó tiểu, đau, khiến ngồi hoặc phải ngồi ở vị trí nào đó mới cảm thấy thoải mái. Kèm theo các biểu hiện hơi sốt và ớn lạnh, tiểu ra máu, cần đến bác sĩ chuyên khoa tiết niệu ngay, để chẩn đoán và tư vấn cụ thể.

4. Chẩn đoán và điều trị.

Nếu bác sĩ nghi ngờ bị sỏi thận, bệnh nhân sẽ được yêu cầu làm một số xét nghiệm máu, xét nghiệm nước tiểu và chụp phim. Về điều trị thì tùy từng bệnh nhân, loại, kích thước sỏi cụ thể, mà các bác sĩ sẽ có chỉ định cho phù hợp.

Sỏi nhỏ với ít triệu chứng, thì có thể điều trị bằng thuốc giảm đau, hoặc uống nhiều nước để loại thải sỏi ra ngoài. Những trường hợp sỏi lớn hơn, hoặc trường hợp sỏi có gây đau hoặc tắc/giảm chức năng thận, dẫn tới chảy máu hoặc nhiễm trùng, cần phương pháp điều trị tích cực hơn: Kỹ thuật không xâm lấn, (tán sỏi ngoài cơ thể), kỹ thuật điều trị ít xâm lấn, (nội soi tán sỏi qua da, nội soi tán sỏi thận qua da siêu nhỏ, nội soi niệu quản).

 

5. Lời khuyên của thầy thuốc.

Để phòng ngừa sỏi thận, cần chú ý đến lối sống đơn giản, có thể có hiệu quả như: Uống đủ nước, (khoảng 2 đến 3 lít nước mỗi ngày), tốt nhất là nước tinh khiết hoặc nước thảo dược, nhất là mùa nóng, khi nhu cầu uống nước nhiều hơn. Ăn ít đồ ăn chứa nhiều oxalate. Giảm ăn muối và protein động vật. Tham vấn ý kiến bác sĩ, trước khi dùng thực phẩm bổ sung canxi. Tránh bất động lâu, và cần điều trị đúng mức các nhiễm khuẩn niệu. Ðiều trị các bệnh liên quan đến đường tiểu, điều đó sẽ giảm được tình trạng mắc sỏi thận.

Thạc sĩ: Nguyễn Đình Liên.

Bình luận