Những năm đầu tiên về công tác tại Bệnh viện đa khoa khu vực Tam Kỳ (Đa khoa tỉnh Quảng Nam ngày nay)


Những năm đầu tiên về công tác tại Bệnh viện đa khoa khu vực Tam Kỳ (Đa khoa tỉnh Quảng Nam ngày nay), tôi may mắn được gặp những người anh đồng nghiệp và cũng là người thủ trưởng tận tình.

Nhắc đến anh, nhắc đến bác sĩ giám đốc Phạm Như Đài thì không một ai ở Tam Kỳ thời đó (những năm 80-90) lại không biết. Anh giản dị, chân tình, hiểu biết nhiều và hơi có chút nghệ sĩ nên đa số đồng nghiệp của tôi thời đó ai cũng thích. Cũng nhờ nhiều cơ duyên nên tôi được gần anh, được đi nhiều với anh và được học nhiều ở anh. Anh chia sẻ và coi tôi như một người em, người bạn nhỏ, không giấu giếm ý tứ và luôn tôn trọng phát kiến trong những lần trao đổi. Tôi học được ở anh tình yêu thương đồng nghiệp, sự thông cảm che chắn, bảo vệ anh em khi thớ lở. Học ở anh tính dân chủ và tôn trọng sự thật, ghét sự giả dối và nịnh bợ. Anh hoạt bát và phong độ đến vậy nhưng sẵn sàng ngồi tham gia nói chuyện văn chương, thời sự bên vài ly rượu giản đơn. Tiếc thay, vì bệnh nặng, anh đã phải ra đi ở cái tuổi còn đang sung mãn 49-50. Những ngày này, nhắc đến anh khi đang ngồi viết, không chỉ tôi mà chắc hẳn các đồng nghiệp khác khi đọc những dòng này về anh cũng đều có thể yên lặng dành vài phút suy tưởng về anh, về những ngày xưa cũ... Thời gian trôi qua, khi nhìn lại cứ ngỡ mình đã lớn, nhưng đâu ngờ mình được lớn lên nhờ những người anh đi trước và đồng nghiệp!

Thời còn làm ở Khoa cấp cứu, nơi bắt đầu tác nghiệp y khoa, tôi vẫn nhớ như in dáng người cao dỏng của BS. Lê Thế Cánh. Anh là người trưởng khoa đầy năng động và cũng là người thầy đầu tiên của tôi trong những bước chập chững vào nghề. Tôi nói như vậy và đúng thật như vậy. Vì ở anh, với tôi có sự thông cảm chia sẻ tận tình, thân mật. Bên cạnh đó là sự giao thoa, cảm thông và quý trọng. Anh đã từng bước hướng dẫn tôi qua tập sự với cái nhìn nhạy bén nghề nghiệp và với cái nói không với khó khăn. Anh là vậy, luôn mày mò làm thử với những cái chưa làm được và có thể làm được. Chẳng hạn như sửa chữa giường bệnh, máy móc y khoa hỏng hóc, thẩm phân phúc mạc tại Khoa cấp cứu khi chưa có máy chạy thận nhân tạo... Tôi cảm phục vì chất đa năng của anh cũng như tính nghiêm túc khoa học của anh khi làm việc và tấm lòng thương người bệnh, mặc dù có đôi lúc anh còn nóng nảy.

Rồi những năm kế tiếp, khi bệnh viện bắt đầu triển khai Khoa Hồi sức Trung tâm (ICU bây giờ). Với đội ngũ bác sĩ trẻ đầy nhiệt huyết, thời đó, chúng tôi đã làm việc tích cực đến mức có thể, mặc dù lương hưởng, vật chất chẳng có đáng là bao, có người đôi lúc rảnh còn tranh thủ đi chở bột cưa, mùn trấu để về nấu bếp... Ôi chao!, ấy vậy mà vẫn vui và làm có hiệu quả chuyên môn. Viết đến đây, bỗng dưng tôi không thể quên được anh, con chim đầu đàn của chúng tôi thời đó, anh là đại diện cho sự chu đáo, tỉ mỉ với lòng thương và biết quy tụ anh em làm điều tốt cho khoa thời bấy giờ. Thậm chí, cũng chính vì vậy mà anh dám đảm nhận nhiệm vụ để khoa cung ứng thuốc theo toa cho bệnh viện trong thời mới bắt đầu mở cửa thị trường, làm để khẳng định: việc không khó nếu vì người bệnh! Tôi học ở anh tính nhẫn nại kiên trì và gọn gàng, đơn giản cùng sự sẻ chia cần thiết cho anh em (thời đó, anh hay cho anh em mượn tiền trong những lúc cần và khó khăn). Nghĩ và viết lại, không biết có phật ý anh không nhưng tôi vẫn cứ viết như một kỷ niệm đẹp, anh là BS. Nguyễn Duy Kỳ, nay đã về hưu. Những năm 90, khi mà làn gió đổi mới đã bắt đầu thổi bùng những ngọn lửa thì bệnh viện tôi cũng bắt đầu tiếp cận và phát triển kỹ thuật mới. Năm 1992, tôi và BS. Võ Văn Quang được phân công đi học và triển khai siêu âm tại bệnh viện. Ban đầu chỉ là máy siêu âm sắp vứt đi của Bệnh viện đa khoa Đà Nẵng cho lại, tôi nhớ đó là máy hiệu ADR của Đức, đầu dò to như cái lược mà màn hình thì chỉ lớn như bao thuốc lá. Mày mò thử nghiệm, vừa kết hợp kỹ năng lâm sàng với hình ảnh siêu âm mà chủ yếu là tự học. Chúng tôi cũng đã “làm mưa làm gió” để thấy nhiệm màu của chiếc máy siêu âm. Bây giờ nhìn lại chắc phải phì cười vì thiết bị quá xấu và che lấp nhiều rủi ro có thể! Nhưng dù sao cũng là khởi đầu cho những mùa đẹp tiếp theo của thiết bị kỹ thuật y khoa. Hai anh em làm việc với nhau tuy không nhiều vì anh còn phải chuyên lo lĩnh vực ngoại khoa bệnh viện. Dù vậy, cũng nhờ anh làm thay để tôi có thời gian đi học tiếp chuyên ngành mới mẻ này ở Sài Gòn. Mỗi người đều có nét riêng, nhưng với anh, tôi cũng đã học được nhiều ở đức tính vì người bệnh nghèo, anh sẵn lòng sẻ chia thật lòng chút vật chất nhỏ nhoi cho họ, khi thì cái áo, khi thì chút tiền, khi thì can thiệp chuyên môn nguy khó...

Và có những người chị, người cô điều dưỡng chẳng bao giờ tôi quên trong những tháng năm đầu chập chững. Chính các chị, các cô là những người đã bày vẽ, hướng dẫn cho tôi những vấn đề nhạy bén nhất ở người bệnh, về mối giao hòa với tất cả các đồng nghiệp xung quanh. Tôi nhớ như in và hàm ơn tấm lòng trong sáng, nhẫn nhịn của các chị như một bài học đầu tiên làm người bác sĩ. Quên sao được những cô Nhụy (Y tá trưởng Khoa Cấp cứu BVĐK tỉnh QN những năm cuối 80), má Tư (Y tá trưởng đầu tiên Khoa Hồi sức Trung tâm - HSCC bây giờ), những chị Lan y sĩ cấp cứu (còn gọi là Rô) hay em Phượng (y sĩ thời những năm 80, nay là y tá trưởng phòng mổ) và nhiều nhiều nữa… những tấm gương nhiệt tình bên người bệnh.

Gần mười năm công tác mới tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch Quảng Nam như một định mệnh và sự lựa chọn phối hợp, tôi đã có biết bao kỷ niệm vui buồn đi qua với đồng nghiệp, với người bệnh. Hồi tưởng thì có biết bao điều để viết, để học nhưng không thể viết dài hơn được nữa. Tôi cũng đã học nhiều điều tốt từ những đồng nghiệp thế hệ sau và cả những cộng sự dưới mình, chính họ cũng đã cho tôi thêm sức trẻ và tình người. Và sau hết, có lẽ tôi cũng phải học cả những điều chưa tốt để tự mình vượt qua, tránh vấp phải.

BS. NGUYỄN LƯƠNG VIỆT

Bình luận