Những bông hoa tầm xuân đẹp nhiều màu sắc hồng, đỏ, trắng, vàng… xinh tươi, hương thơm dịu dàng, rất thích hợp trồng hàng rào, tường nhà.

Không chỉ đem lại vẻ lãng mạn cho ngôi nhà, nhiều bộ phận của cây tầm xuân còn có giá trị phòng chữa bệnh. Loại hoa tầm xuân màu trắng là tốt hơn cả.

Hoa: thu hái vào mùa xuân và mùa hè, chữa các chứng:

Nôn ra máu, chảy máu cam: hoa tầm xuân 6g, bạch cập 15g, rễ cỏ tranh 30g. Sắc uống.

Sốt rét: hoa tầm xuân sắc uống thay trà.

U tuyến giáp: hoa tầm xuân 5g, hoa hậu phác 5g, hoa chỉ xác 5g, hoa hồng 5g. Sắc uống.

Cảm nắng, cảm nóng. Biểu hiện tức ngực, buồn nôn và nôn, có thể nôn ra máu, môi khô miệng khát, chán ăn mệt mỏi: hoa tầm xuân 3-9g sắc uống.

Hoặc hoa tầm xuân 5g, thiên hoa phấn 10g, sinh thạch cao 30g, mạch môn 15g. Sắc uống.

Hoặc hoa tầm xuân 10g, hoa đậu ván trắng 10g, hãm với nước sôi, chế thêm chút đường phèn, uống thay trà.

Lá: thu hái quanh năm, tác dụng sinh cơ và làm liền nhanh vết thương, chữa các chứng:

Viêm loét chi dưới: lá tầm xuân, không kể liều lượng, nấu nước rửa vết thương.

Nhọt độc sưng nề nhiều: lá và cành non tầm xuân, rửa sạch giã nát với chút muối, đắp lên nơi tổn thương.

Trong các loại tầm hoa tầm xuân, tầm xuân trắng làm thuốc tốt hơn cả.

Trong các loại tầm hoa tầm xuân, tầm xuân trắng làm thuốc tốt hơn cả.

Rễ: vị đắng hơi sáp tính bình, có công dụng thanh nhiệt lợi thấp trừ phong, hoạt huyết và giải độc, chữa các chứng:

Liệt mặt và di chứng liệt nửa người do tăng huyết áp: rễ tầm xuân 15-30g sắc uống.

Chảy máu cam  mạn tính: vỏ rễ tầm xuân 60g hầm với thịt vịt già, ăn.

Đau răng, viêm loét miệng: rễ tầm xuân sắc uống hoặc ngậm.

Viêm khớp, liệt nửa người, kinh nguyệt không đều, khí hư và tiểu tiện không tự chủ: rễ tầm xuân 15-30g sắc uống.

Hoàng đản (vàng da do nhiều nguyên nhân): rễ tầm xuân 15- 25g hầm với 60g thịt lợn nạc, chế thêm chút rượu vang chia ăn vài lần trong ngày.

Trị vết thương chảy máu: rễ tầm xuân lượng vừa đủ sấy khô tán bột rắc vào vết thương, cũng có thể trộn với dầu vừng để đắp.

Rong huyết: rễ tầm xuân 30g, ngải cứu già đốt tồn tính 10g, cỏ nhọ nồi 30g, tiên hạc thảo 30g. Sắc uống hằng ngày.

Quả: vị chua tính ấm, thu hái vào lúc chín, sấy hoặc phơi khô làm thuốc, chữa các chứng:

Lợi tiểu thanh nhiệt hoạt huyết giải độc; Trị phù do viêm thận: quả tầm xuân 5g, táo tàu 3 quả. Sắc uống.

Hoặc quả tầm xuân 20g, đại hoàng 3g. Sắc uống chia 3 lần trong ngày.

Tiểu tiện khó khăn: quả tầm xuân 10g, mã đề 30g, biển súc 30g. Sắc uống.

Lương y Đình Thuấn

Từ khóa: Cây tầm xuân, y tá

Bình luận