Theo nghiên cứu, bán hạ có tác dụng chữa ho và chống nôn; Được dùng theo kinh nghiệm dân gian chữa phụ nữ có thai bị nôn mửa hoặc chữa nôn trong trường hợp viêm dạ dày mãn tính.

Sách Lễ ký nói: vị thuốc này sinh vào giữa mùa hạ nên gọi là bán hạ. Bán hạ là thân rễ phơi hay sấy khô và chế biến của nhiều cây khác nhau, đều thuộc họ ráy Araceae.


Mô tả cây

Cây bán hạ Việt Nam (Typhonium trilobatum Schott) còn gọi là củ chóc, lá ba chìa, cây chóc chuột, là một loại cỏ không có thân, có củ hình cầu đường kính tới 2cm. Lá hình tim, hay hình mác, hoặc chia 3 thùy dài 4 - 15cm, rộng 3,5 - 9cm. Bông mo với phần hoa đực dài 5 - 9mm. Bông mo với phần hoa đực dài 5 - 9mm, phần tràng dài 17 - 27mm. Quả mọng, hình trứng dài 6mm.

Cây bán hạ Trung Quốc (Pinellia ternata Thunb). Breiter khác cây bán hạ Việt Nam ở chỗ thùy xẻ sâu rõ rệt hơn. Mặc dầu gọi là bán hạ Trung Quốc để phân biệt với bán hạ Việt Nam, nhưng có người nói đã thấy cây này mọc ở Lào Cai nhưng chưa được khai thác.

Cây chưởng diệp bán hạ (Pinellia pedatisecta Schott) khác những cây trên ở lá chia thành chín thùy khía sâu.

Cây bán hạ ở Việt Nam mọc hoang ở khắp những nơi đất ẩm ở nước ta từ Nam chí Bắc. Còn mọc ở Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản.

Người ta đào rễ (củ), rửa sạch đất cát, lựa củ to (gọi là nam tinh), củ nhỏ (gọi là bán hạ). Có thể dùng tươi (thường chỉ dùng giã đắp lên nơi rắn độc cắn), thường dùng khô có chế biến.

Cách bào chế

Có nhiều cách chế biến mục đích theo quan niệm Đông y để giảm bớt độ độc (tẩm cam thảo) hay tăng tác dụng chữa ho (tẩm gừng hay bồ kết). Sau đây là một số cách chế biến thường thấy:

Tẩm cam thảo và bồ kết: củ chóc (bán hạ Việt Nam) rửa sạch ngâm nước trong 2 - 3 ngày, mỗi ngày thay nước một lần cho đến khi nước trong hẳn. cứ 1kg bán hạ thêm 0,100kg cam thảo, 0,1000kg bồ kết và nước cho đủ ngập rồi đun cho đến khi cạn nước, vớt ra phơi hay sấy khô. Nguyên nhân chưa rõ, nhưng ta biết cam thảo có tác dụng giảm độc, trừ ho, bồ kết cũng có tác dụng chữa ho.

Tẩm gừng và phèn chua: củ bán hạ cũng rửa sạch và ngâm nước như trên cho tới khi nước trong. Cứ 1kg bán hạ thì thêm 50g phèn chua 300g gừng tươi giã nhỏ thêm nước vào cho ngập. Ngâm trong 24 giờ, lẩy ra rửa sạch. Đồ chín, thái mỏng, lại tẩm nước gừng: cứ 1kg bán hạ thêm 150g gừng tươi giã nát, thêm ít nước vắt lấy nước và cho bán hạ vào ngâm một đêm. Lấy ra sao vàng là dùng được. Phèn chua có tác dụng làm cho hết nhớt.

Trong Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân có ghi về chế biến bán hạ như sau: phàm dùng bán hạ, phải đem ngâm nước nóng chừng nửa ngày cho hết nhớt, nếu không thời có độc, uống vào ngứa cổ không chịu được. Trong các bài thuốc, người ta dùng bán hạ kèm theo cả sinh khương (gừng tươi) là vì sinh khương chế được chất độc của bán hạ.

Theo tài liệu cổ, người ta chế bán hạ như sau: bán hạ 120g, bạch giới tử 80g, dấm chua 200g; cho bạch giới tử giã nhỏ vào dấm quấy đều, thêm bán hạ vào ngâm một đêm. Lấy ra rửa sạch nhớt mà dùng.

Một phương pháp khác: rửa sạch bán hạ, dùng nước nóng ngâm, thay nước luôn cho hết nhớt, thái mỏng, tẩm nước gừng, sấy thật khô mà dùng. Có thể phải tán nhỏ thành bột trộn với nước ép gừng, phơi khô dùng.

Bán hạ thu hoạch từ mùa hạ đến thu đông.

Đào củ về, rửa sạch đất cát, đãi sạch vỏ mỏng ngoài, ngâm nước phèn cho sạch nhớt, phơi khô là được. Chỉ khi nào bào chế để dùng mới theo phương pháp nói trên.

Những công dụng

Theo nghiên cứu, bán hạ có tác dụng chữa ho và chống nôn. Được dùng theo kinh nghiệm dân gian chữa phụ nữ có thai bị nôn mửa hoặc chữa nôn trong trường hợp viêm dạ dày mãn tính. Nó còn là vị thuốc chữa ho (làm cho long đờm), chữa nhức đầu, đau dạ dày mãn tính. Ngày dùng 1,5 - 4g; có thể dùng tới liều từ 4 - 12g bán hạ đã chế biến hoặc hơn nữa. Dùng ngoài, tùy theo liều lượng và dùng tươi, giã nát đắp lên nơi đâu.

Trong sách cổ ghi về tính chất và tác dụng của vị bán hạ như sau: vị cay, ôn, có độc; có tác dụng táo thấp (làm khô ẩm thấp), hóa đờm, giáng nghịch (làm hạ hơi đưa lên) hết nôn. Dùng trong những trường hợp nôn mửa, đờm thấp, hen suyễn, đầu nhức, đầu váng, không ngủ; dùng ngoài có tác dụng tiêu thũng. Phụ nữ có thai dùng phải cẩn thận, vị bán hạ phản với ô đầu, thảo ô.

Đơn thuốc có vị bán hạ ghi trong dược điển Trung Quốc 1953: bột bán hạ 80g, bột gừng sống 50g, nước 3.000ml đun sôi và sắc cho đến khi cạn còn 1.000ml; lọc qua bông và dùng nước cất pha thêm cho dủ 1.000ml. Theo dược điển Trung Quốc, mỗi lần dùng 100 - 300ml, trung bình mỗi ngày dùng 200 - 600ml tương ứng với 8 - 24g hoặc 16 - 18g bán hạ. Chữa ho và nôn mửa khi có thai.

Tiểu bán hạ gia phục linh thang (đơn thuốc của Trương Trọng Cảnh): bán hạ 8g, phục linh 6g, sinh khương 3g, nước 300ml, sắc còn 100ml. Uống dần trong ngày, chữa phụ nữ có thai nôn mửa.

Dùng chữa hen suyễn, nặng mặt, nằm không được, muốn nôn ọe, bụng dưới nôn nao, cũng dùng chữa nôn: bán hạ chế 40g, sinh khương 20g, nước 600ml, sắc còn 200ml, chia nhiều lần uống trong ngày. Liều dùng bán hạ ở đây so với đơn tiểu bán hạ có cao hơn, nên uống từ từ, thấy chịu thì uống nữa.

​BS.CKII. HUỲNH TẤN VŨ

Bình luận