Liên quan đến vụ bệnh nhân tử vong, sau khi phẫu thuật gãy xương cánh tay ở Bệnh viện đa khoa Hà Đông. Bác sĩ đầu ngành Ngoại khoa Hà Nội nói gì?

Để giúp bạn đọc hiểu thêm, những nguy cơ trong phẫu thuật, chúng tôi xin giới thiệu, bài viết của Phó giáo sư, tiến sĩ: Trần Trung Dũng, Phó Giám đốc Bệnh Viện Đa Khoa Xanh Pôn, Giảng viên Bộ môn Ngoại, (Đại học Y Hà Nội), nhằm giúp bạn đọc hiểu thêm, về những nguy biến, có thể xảy ra trong quá trình phẫu thuật.

Khi dự định thực hiện phẫu thuật, vấn đề người bệnh, cũng như người thân bệnh nhân, quan tâm lớn nhất và gần như duy nhất, là kết quả cuối cùng của quá trình phẫu thuật. Tuy nhiên, một trong những vấn đề rất quan trọng, mà người nhà bệnh nhân cũng như bệnh nhân cần quan tâm, hiểu rõ và ý thức được, đó là các nguy cơ, có thể xảy ra trong và sau quá trình phẫu thuật.

Các nguy cơ này do nhiều yếu tố khác nhau, chủ quan, khách quan, nhưng đều để lại những hậu quả, mà cả bệnh nhân và nhân viên y tế đều không mong muốn. Không có bất kỳ phẫu thuật nào, mà không có nguy cơ, tuy nhiên, việc hiểu rõ các nguy cơ, giúp cho người bệnh được lựa chọn sáng suốt: phẫu thuật để cải thiện chất lượng cuộc sống, hay là chấp nhận tình trạng hiện tại, để tránh các nguy cơ có thể xảy ra. Một số trường hợp khác, khi được bác sĩ thông báo về các nguy cơ có thể xảy ra, một số bệnh nhân không hiểu rõ, sẽ e ngại, lo lắng, và đôi khi từ chối việc phẫu thuật, làm mất đi cơ hội cải thiện chất lượng cuộc sống của mình. Điều quan trọng nhất là, người nhà cũng như bệnh nhân cần nắm chắc, hiểu rõ các nguy cơ trong và sau phẫu thuật, có thể gặp phải là:

1. Các nguy cơ và biến chứng do gây mê hồi sức.

Quá trình phẫu thuật đòi hỏi sự tham gia và phối hợp chặt chẽ của gây mê hồi sức. Tùy theo yêu cầu của cuộc phẫu thuật mà bác sĩ gây mê có thể thực hiện 2 loại gây mê cơ bản: gây tê vùng và gây mê toàn thân. Đối với gây mê toàn thân, bác sĩ gây mê phải kiểm soát và chỉ huy gần như hoàn toàn vấn đề hô hấp và tuần hoàn của bệnh nhân để đảm bảo yêu cầu cho phẫu thuật. Đối với gây tê vùng, có thể chỉ cần làm giảm đau đủ mức độ cần thiết để bệnh nhân hết đau, có thể thực hiện được phẫu thuật.

Trong quá trình phẫu thuật, các nguy cơ chiếm tỷ lệ rất nhỏ nhưng có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

Trong quá trình phẫu thuật, các nguy cơ chiếm tỷ lệ rất nhỏ, nhưng có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

2. Nguy cơ chảy máu.

Nguy cơ chảy máu là nguy cơ thường trực, của tất cả các loại phẫu thuật. Nguy cơ này nếu xảy ra, có thể đòi hỏi phải thực hiện phẫu thuật lại, để cầm máu, hoặc là truyền máu nếu cần thiết. Việc chảy máu sau phẫu thuật, có thể do rất nhiều nguyên nhân: quá trình đông máu của bệnh nhân kém, sự bong cục máu đông sau phẫu thuật, do bệnh nhân cử động mạnh, có thể tổn thương các mạch máu trước hoặc trong phẫu thuật, mà trong khi phẫu thuật, do những điều kiện khách quan, mà bệnh nhân không phát hiện ra, vân vân.

Nếu xảy ra chảy máu sau mổ, việc mổ lại để cầm máu có thể được đặt ra, bệnh nhân cần tuân thủ chặt chẽ, các yêu cầu về chuyên môn của bác sĩ, mới có thể có được kết quả tốt nhất.

3. Nguy cơ hình thành cục máu đông.

    Huyết khối tĩnh mạch sâu là một nguy cơ sau phẫu thuật, đặc biệt, nguy cơ này có thể dẫn đến tử vong, nếu cục huyết khối rời ra khỏi lòng mạch, trôi vào hệ thống mạch máu quan trọng của tim và phổi.

    Nguy cơ hình thành cục máu đông, là nguy cơ thường trực cho tất cả các bệnh nhân nằm lâu, chứ không chỉ các bệnh nhân phẫu thuật. Tuy nhiên, phẫu thuật là yếu tố thuận lợi, làm cho bệnh nhân nằm lâu, do đó, bệnh nhân cần ý thức rất rõ điều này, trước khi tham gia quá trình phẫu thuật, để có thể hiểu rõ vai trò chủ yếu và quan trọng của mình, trong việc ngăn chặn nguy cơ hình thành cục máu đông sau phẫu thuật. Ngăn ngừa nguy cơ này, đòi hỏi sự phối hợp của bệnh nhân và bác sĩ, trong đó, bệnh nhân đóng vai trò trung tâm. Đối với những phẫu thuật có nguy cơ, bác sĩ sẽ chủ động bổ sung thêm thuốc điều trị, để ngăn ngừa nguy cơ hình thành cục máu đông trong lòng mạch.

    Huyết khối tĩnh mạch sâu là một nguy cơ, và là một tình trạng nên chủ động phòng bệnh, chứ không nên ỷ lại vào việc điều trị. Nếu xảy ra tình trạng này, việc điều trị cũng hết sức khó khăn, và chi phí cũng rất tốn kém.

    4. Nguy cơ tử vong.

    Mọi phẫu thuật đều có nguy cơ tử vong, mặc dù nguy cơ này có thể nhỏ. Quá trình phẫu thuật phải dùng thuốc và các biện pháp can thiệp điều trị, tất cả các biện pháp này, đều có nguy cơ và nặng nề nhất là dẫn đến tử vong. Những phẫu thuật lớn, nặng nề, như phẫu thuật tim mạch, não, nguy cơ tử vong là đương nhiên, nhưng những phẫu thuật nhỏ như: cắt amiđan, cắt mộng thịt của mắt, vân vân, cũng thường trực nguy cơ này, mặc dù rất nhỏ.

    5. Khó thở sau phẫu thuật.

    Đối với những phẫu thuật đòi hỏi việc gây mê toàn thân, nguy cơ khó thở và khó khăn, trong việc bỏ máy thở, là một trong những nguy cơ có thể gặp. Một số bệnh nhân có thể phải thở máy lâu hơn, một số bệnh nhân có thể phải thực hiện việc phục hồi chức năng, đồng thời với việc cai máy thở. Những bệnh nhân có thể gặp những nguy cơ này, thường là những bệnh nhân có nguy cơ mạn tính, về bệnh lý hô hấp và tim mạch.

    6. Nhiễm khuẩn sau mổ.

    Mọi cuộc phẫu thuật, đều đòi hỏi phải phá vỡ hàng rào bảo vệ của cơ thể, trong đó lớn nhất là da. Đây là cơ hội rất tốt để vi khuẩn xâm nhập. Quá trình phẫu thuật được thực hiện trong điều kiện vô khuẩn, tuy nhiên, theo tính toán, thì không thể có sự vô trùng tuyệt đối, do đó, nguy cơ nhiễm khuẩn vẫn có thể xảy ra.

    7. Chấn thương trong quá trình phẫu thuật.

    Trong quá trình thực hiện phẫu thuật, vì những điều kiện khách quan, mà có thể xảy ra những chấn thương khác trong phẫu thuật như: cắt ruột thừa bị thủng ruột, cắt tử cung phạm phải niệu quản, kết hợp xương phạm phải mạch máu, vân vân. Những thương tổn này, có thể được phát hiện và xử lý ngay, nhưng cũng có thể sau phẫu thuật mới phát hiện ra. Khi phát hiện xảy ra sự cố, việc can thiệp lại, có thể được đặt ra và thực hiện ngay.

    8. Liệt sau phẫu thuật.

    Một trong những biến chứng ít gặp, nhưng rất nặng nề có thể xảy ra, là liệt thần kinh sau phẫu thuật. Việc này thường gặp hơn ở các phẫu thuật não và tủy sống, tiếp theo là các phẫu thuật chi, như kết hợp xương, phẫu thuật khớp, vân vân. Các phẫu thuật này, có sử dụng garô để giảm thiểu sự chảy máu, tuy nhiên, do sự nhạy cảm của thần kinh ngoại vi của từng bệnh nhân, có thể dẫn đến liệt thần kinh. Nguyên nhân của liệt thần kinh trong các trường hợp này, là do tổ chức thần kinh bị thiếu máu nuôi. Về cơ bản, liệt này có thể hồi phục, nhưng vẫn có tỷ lệ không hồi phục thần kinh sau mổ. Một số trường hợp có thể cải thiện chức năng, bằng các phẫu thuật chỉnh hình chuyển gân, một số trường hợp khác thì khó khăn hơn.

    9. Kết quả phẫu thuật không được như mong muốn.

    Kết quả phẫu thuật không được như mong muốn, là điều mà cả phẫu thuật viên và bệnh nhân, đều không mong muốn. Trong một số trường hợp, mặc dù tất cả mọi biện pháp điều trị đều tốt và chuẩn mực, nhưng kết quả phẫu thuật vẫn không được như mong muốn. Điều này được giải thích do nhiều yếu tố, có thể ảnh hưởng như: vấn đề cơ địa, vấn đề kỹ thuật. Trong một số trường hợp, khi nguyên nhân của kết quả kém sau phẫu thuật được xác định, việc can thiệp phẫu thuật lại có thể được đặt ra.

    Như vậy, khi đứng trước sự lựa chọn phẫu thuật, phải hiểu rằng, bệnh nhân phải chấp nhận các nguy cơ, của phẫu thuật và gây mê hồi sức. Các nguy cơ này có thể tỷ lệ rất nhỏ, nhưng có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, điều quan trọng là, nếu bệnh nhân quyết định lựa chọn phẫu thuật, vấn đề nên quan tâm trước tiên, là có thực sự tin tưởng vào bác sĩ phẫu thuật, và êkíp thực hiện phẫu thuật cho hay chưa? Nếu bệnh nhân tin tưởng vào trình độ chuyên môn của êkíp, sẽ thực hiện phẫu thuật cho mình, thì có thể tin rằng, họ sẽ làm tất cả những gì tốt nhất có thể, để đạt được kết quả phẫu thuật tốt nhất, và cuộc phẫu thuật diễn ra được an toàn nhất.

    Phó giáo sư, tiến sĩ: Trần Trung Dũng.

    Bình luận